Chương 1- Anh ơi, mèo này mua ở đâu vậy ạ?
Thú tộc là một chủng loại đã tồn tại từ rất lâu trên Trái Đất, và cho đến tận bây giờ, bọn họ vẫn tiếp tục sống và hòa nhập cùng xã hộ loài người. Tất nhiên là theo một cách bí mật.
Ngược về trăm ngàn năm trước đây, đã từng có thời nhân loại cùng thú tộc chung sống hòa bình với nhau, tuy nhiên quãng thời gian ấy cũng không kéo dài quá lâu. Cho dù là trong bối cảnh hay thời điểm nào đi chăng nữa, khác biệt và chênh lệch chắc chắn sẽ tạo nên xung đột.
Thú tộc có thể học tập và phát triển tư duy như con người nhưng vẫn giữ lại một vài đặc tính của động vật, họ có cả dạng người và dạng thú, điều này khiến bọn họ vượt trội hơn nhân loại ở một vài phương diện; tỉ dụ như sức khỏe, khả năng bắt mồi hay ưu thế trong việc di chuyển. Cùng với việc tuổi thọ và thời gian lão hóa của thú tộc dài gấp đôi nhân loại, bọn họ có nhiều thời gian hơn trong học tập trau dồi kiến thức cũng như củng cố lại sức mạnh của tộc nhân. Cứ như vậy, người thuộc thú tộc dần dần chiếm lĩnh những vị trí cốt cán trong xã hội.
Việc giữ quyền lực trong một thời gian dài khiến bọn họ cảm thấy thú tộc và nhân loại là hai chủng loại không thuộc cùng một tầng lớp, không lý gì bọn họ phải sống cùng và chịu trách nhiệm cho chủng loại thấp kém hơn mình cả. Kết quả, không có gì là khó đoán, thú tộc tách mình ra khỏi nhân loại. Bọn họ tự xây dựng nền văn minh của riêng mình, tiếp tục giữ liên hệ với nhân loại nhưng đó là một liên kết vô cùng mỏng manh.
Trăm năm trôi qua, nhân loại tại thời điểm này vẫn còn biết tới sự tồn tại của thú tộc, thế nhưng vì không có đủ hiểu biết nên đối với bọn họ, thú tộc là một sự tồn tại ngoài tầm với. Cảm giác không biết rõ, không hiểu rõ dẫn đến nỗi sợ cũng như sự tôn thờ của nhân loại đối với thú tộc. Nói cách khác, thú tộc lúc bấy giờ đã trở thành những truyền thuyết, những tín ngưỡng, hay những câu chuyện truyền miệng không rõ thực hư.
Dần dần, nhân loại hình thành nên chủ nghĩa duy con người và những chủ nghĩa có liên quan, lấy con người làm trung tâm, là một sự ưu việt, vì vậy, mọi sự tồn tại phi nhân loại đều trở nên thấp kém, không hợp với lẽ thường. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nỗi sợ hãi vì thiếu hiểu biết của con người dần bị xóa bỏ, chênh lệch về khả năng giữa con người và thú tộc cũng nhờ vậy mà thu hẹp.
Trái ngược với nhân loại, bởi vì thú tộc được ban tặng những khả năng vượt trội ngay từ đầu nên không có nhu cầu phát triển những loại kỹ thuật với mục đích bù đắp thiếu hụt khả năng kia. Việc tự cô lập chủng tộc của mình với xã hội loài người khiến bọn họ không nhận thức được thay đổi bên ngoài, mà con người lúc này đã dần quên đi sự tồn tại của thú tộc.
Ham muốn khám phá và điều khiển vạn vật của con người ngày càng bành trướng, diện tích sinh sống của bọn họ ngày một tăng, dần dần tiến gần tới vùng đất của thú tộc. Lần đầu tiên chạm trán sau một khoảng thời gian dài sống tách biệt, nhân loại lúc này chiếm thế thượng phong trong khi thú tộc lại trở thành bên thiểu số, không đủ sức mạnh và khả năng chống đỡ, thậm chí trở thành mục tiêu nghiên cứu khoa học của nhân loại. Chính phủ không những tiến hành thí nghiệm lên cơ thể của thú tộc, bọn họ còn khiến dân chúng tin rằng thú tộc là một giống loài nguy hiểm, cần phải đề phòng và loại trừ. Sau đó, việc thú tộc trả thù cho một vài tộc nhân bị bắt và thiệt mạng trong những cuộc thí nghiệm bí mật của chính phủ kia càng củng cố thêm tư tưởng này trong lòng dân chúng. Từ đây sinh ra phong trào bài trừ và tiêu diệt thú tộc của nhân loại rồi dẫn đến chiến tranh. Bởi sự kiện ấy, lượng tử vong ở cả hai phe lên đến một con số khổng lồ, mâu thuẫn giữa hai chủng loại đã đạt tới đỉnh điểm.
Tuy nhiên, với năng lực lúc bấy giờ, thú tộc khó có thể xoay chuyển thế cục. Ngoài thua kém về vũ khí công nghệ, việc tuổi thọ của bọn họ dài gấp đôi con người, điều mà bọn họ vẫn cho là ưu việt và lợi thế từ mấy ngàn năm trước, bỗng trở thành một trong những lý do dẫn đến việc bại trận. Bởi tuổi thọ kéo dài, thú tộc cảm thấy duy trì giống nòi, sinh con đẻ cái không còn là việc cần ưu tiên nữa, không có điều ấy, bọn họ vẫn có thể dễ dàng đảm bảo nguồn nhân lực, ở đây là những thú nhân thành niên. Về lâu về dài, suy nghĩ này dẫn đến hiện tượng lão hóa dân số. Phong trào bài trừ và tiêu diệt thú tộc của nhân loại cùng chiến tranh nổ ra đã gần như cướp đi nguồn lao động của bọn họ, không thể đảm bảo mức sống bình thường, vậy thì càng không thể nào tiếp tục chiến tranh, thú tộc không thể không rút tàn quân, trốn chạy và chia ra thành những nhánh nhỏ phân bố khắp nơi trên thế giới.
Thời gian dần trôi, thú tộc không còn là một thể thống nhất như thưở sơ khai nữa, việc chia nhỏ tộc nhân khiến bọn họ hình thành những tư tưởng và cách sống khác nhau, có tương đồng, cũng có đối lập. Nhưng nói chung, có thể chia ra hai phe: một bên tiếp tục căm thù nhân loại, không muốn tiếp xúc với chủng loại tàn nhẫn ấy, sống một cuộc sống tách biệt với bọn chúng; một bên lại cho rằng hành động tiếp tục tự cô lập là bảo thủ và ngu xuẩn, không có lợi cho việc phát triển của toàn chủng loại. Giải pháp của bên đổi mới đưa ra, đó chính là "cùng tồn tại" và cố gắng hòa nhập vào xã hội loài người mà không mất đi bản sắc của thú tộc. Thú nhân thành niên sẽ được tiếp xúc với xã hội loài người dưới dạng thú nuôi, sau một khoảng thời gian học tập cách sống và ngôn ngữ từ "giáo viên bất đắc dĩ", tổ chức thú nhân sẽ giúp bọn họ tạo thân phận để có thể sống trong xã hội loài người một cách hợp pháp. Bọn họ có thể chọn ở lại xã hội loài người hay quay trở về quê hương để phát triển. Mặt khác, những thú nhân lớn tuổi và có kinh nghiệm lại chịu trách nhiệm truyền tải kiến thức văn hóa cùng lịch sử của thú tộc cho những thú nhân nhỏ tuổi.
(...)
"Và vì thế, để các con tiếp xúc với nhân loại không phải một hành động chối bỏ nguồn gốc. Các con luôn phải ý thức được rằng, thú tộc từ thưở ban đầu cho đến tận lúc này vẫn là một chủng loại có khả năng ưu việt và đặc biệt. Chúng ta cố gắng sống chung với con người, che giấu thân phận không phải hành động tự hạ thấp bản thân mà đó là một cách sáng suốt để có thể tự do tồn tại cũng như phòng ngừa những tranh chấp không đáng có. Sau khi nhận được thân phận, các con sẽ hoàn toàn có quyền như một nhân loại, đã hiểu rồi chứ?"
Đám học sinh dưới giảng đường nhao nhao đáp lời. Đây đã là tiết học văn hóa chung cuối cùng của bọn họ, sau một kỳ nghỉ ngắn tầm một tháng để chuẩn bị, bọn họ sẽ phải rời khỏi quê hương để đến và tìm hiểu một vùng không gian xa lạ và rộng lớn khác. Có lo âu nhưng phần nhiều là háo hức, lần đầu tiên xa quê hương, được tự học tập và thu thập kinh nghiệm, cũng có một số rất vui vẻ vì khi đến xã hội loài người, bọn họ có thể đến gần cha mẹ hơn.
Khôi thấy tiết học đã kết thúc bèn nhanh chóng chuyển thành dạng thú, lén chạy về phòng ký túc xá ngủ bù một giấc, hôm qua cậu thức khuya chơi game, hôm nay cố gắng lắm mới giữ cho mắt mình không nhắm trong lớp của thầy Kim Quy.
Khôi là một nhân miêu, thuộc giống mèo mướp, dạng người đã chẳng cao được bao nhiêu nên lúc biến thành thú đương nhiên vẫn nhỏ xinh. Cậu mèo hơi giãn người, mông mèo nhổng lên, khẽ ngáp một cái, sau đó nhanh chóng phi thẳng về phòng, nhảy qua cửa sổ để mở rồi đáp ngay xuống gối mềm.
Mèo mướp nhỏ cuộn mình lại, má đè lên gối đầu nên càng thêm nét phúng phính. Nắng chiều xuyên qua khung cửa sổ, chiếu rải rác trong gian phòng, truyền tới một sự ấm áp như có như không.
Cậu mèo ngủ đến khi tia nắng cuối cùng trong ngày biến mất, xung quanh đã tối đen như mực mới tỉnh dậy vì đói bụng. Mũi mèo khẽ động, mắt mèo mở ra, như phát sáng trong bóng đêm. Đúng lúc này có người mở cửa phòng, theo đó là tiếng công tắc đèn được bật lên.
"Đã bảo cậu bao nhiêu lần rồi, không được đột nhiên biến thành dạng thú. Có phải lúc nào tôi cũng đi theo nhặt đồ cho cậu được đâu." Nói rồi, quăng quần áo của mèo mướp nhỏ lên giường cậu.
Bạn cùng phòng của Khôi là một cậu mèo trụi lông, người gầy gò, không có tóc nhưng gương mặt nhỏ nhắn, ngũ quan sắc bén đẹp đẽ khiến việc ấy cũng chẳng là gì quan trọng. Cậu nhóc có một đôi con ngươi màu trời đông, xanh dương nhạt pha xám, có chút lạnh lẽo nhưng lại rất hút mắt người nhìn.
Mèo mướp nhỏ dường như chả để tâm đến nhắc nhở của bạn cùng phòng, thè lưỡi ra liếm liếm chân, vuốt vuốt mặt một chút lại chuyển sang dạng người rồi bắt đầu mặc quần áo. Xong xuôi đâu vào đấy, Khôi mở đôi mắt to tròn của mình nhìn về phía đối phương, chớp chớp, trong mắt chẳng còn buồn ngủ nữa mà là một vẻ hoạt bát dễ thương.
"Dương, Dương, Dương, cậu có mang gì về cho tôi ăn không? Người ta đói quá luôn ấy bạn thân à..."
Dương dường như đã quá quen thuộc với màn dở chứng này của bạn mình, không đáp lại, chỉ hơi lườm con mèo ngố kia, sau đó đưa cho Khôi một phần cơm hộp.
"Lần cuối đấy. Cậu liệu mà tập ăn uống ngủ nghỉ cho đúng giờ đi, sau này không phải lúc nào cũng có người theo sau hầu hạ chăm sóc cậu đâu."
Mèo mướp nhỏ vừa nhồm nhoàm ăn cơm vừa gật đầu nói phải.
Dương làm bạn cùng phòng với Khôi từ lúc bọn họ vào trường, tính đến giờ đã mười năm có lẻ, đương nhiên hiểu rõ tính tình của người bạn này, biết cậu ta sẽ chẳng nghe vào đâu, bèn thở dài rồi bước vào phòng tắm.
Dương là một con mèo trụi lông mặt mày lúc nào trông cũng hầm hầm khó gần, từ khi còn bé đã khiến các bạn nhỏ thú nhân khác sợ hãi nên quen ở một mình lại thích yên tĩnh, vốn dĩ không ưa loại mèo tùy tiện ồn ào như Khôi mướp nhỏ. Trên thực tế, quan hệ của bọn họ vẫn khá xa cách cho đến năm chín tuổi, tính ra là một năm kể từ khi trở thành "bạn cùng phòng".
Cha mẹ mèo mướp nhỏ đều là thú nhân, sau khi sinh ra cậu thì quay về quê hương mà không ở lại cùng loài người, vì vậy, cứ cuối tuần là Khôi mướp nhỏ lại được gặp cha mẹ, chẳng bù cho Dương, vì cha mẹ đều quyết định kinh doanh bên ngoài, phải tầm hai tháng mới có một lần về gặp cậu. So với đại đa số những thú nhân nhỏ tuổi khác, Khôi mướp nhỏ được tiếp xúc với cha mẹ nhiều hơn, vì vậy mà tính ỷ lại cũng lớn hơn rất nhiều, giỏi nhất là đi làm nũng.
Thế nhưng vào năm chín tuổi ấy, cha mẹ Khôi có việc cần xuống núi, chẳng may tối đó trời mưa lớn, đường đi trơn trượt, xe bị mất tay lái mà lao xuống vực.
Khôi mướp nhỏ biết được tin thì khóc một ngày trời, cả tháng sau đó thì mặt mày lúc nào cũng bơ phờ. Đêm đêm, Dương vẫn thỉnh thoảng thấy cậu mướp nhỏ cầm ảnh cha mẹ rấm rứt khóc, không thành tiếng lớn, chỉ là những tiếng nấc nhỏ nghẹn lại trong cổ họng, chốc chốc lại hòa với tiếng khịt mũi.
Mướp nhỏ vốn chẳng có bao lớn, tháng đó vì buồn rầu nên gầy rộc hẳn đi, không còn vẻ hoạt bát đáng yêu như ngày thường.
Mèo trụi lông nhìn mà không nỡ, vậy là cứ âm thầm mua đồ ăn dỗ mèo. Khôi không ăn, Dương sẽ cầm món đồ đứng đó nhìn chằm chằm. Mặt mũi cậu vốn có nét đáng sợ, lần đầu còn dọa Khôi ngố khóc một trận, nước mắt nước mũi tèm lem, nhưng cuối cùng thì vẫn nhận đồ ăn, ăn lấy ăn để. Ăn xong thì ợ một tiếng nhỏ, mướp nhỏ cũng xấu hổ, vội vàng lấy tay che miệng rồi lấm lét ngước nhìn bạn cùng phòng của mình, cứ như đứa nhỏ làm sai chuyện gì, sau đấy mới lí nhí nói một tiếng cảm ơn.
Dần dà, hai người trở nên thân thiết. Khôi nhờ Dương mà vượt qua khoảng thời gian đau buồn khi mất đi người thân, Dương cũng nhờ Khôi mà có thể trở nên hòa đồng hơn, gặp thêm được khá nhiều bạn mới.
Dương vẫn giữ thói quen lo chuyện ăn uống của Khôi từ năm ấy, lo lắng cho đối phương như cậu là em trai mình. Khôi thì dành hết lòng để đối tốt với Dương, trừ việc không chịu nghe lời ăn ngủ nghỉ đúng giờ ra thì cũng khá ngoan ngoãn, vì da của Dương nhạy cảm nên Khôi rất chăm dọn dẹp phòng của hai đứa, biết Dương sợ lạnh, không thích ra ngoài vào mùa đông thì dù có lười cũng ráng xuống lầu mua cơm canh nóng cho cả hai.
Hai nhóc mèo cứ nương tựa vào nhau như vậy mà sống gần một thập kỷ, cũng đã coi đối phương như người trong nhà. Tháng sau phải mỗi người một ngả, tìm con đường riêng cho bản thân, nghĩ vậy không khỏi cảm thấy bùi ngùi, lo lắng cho người kia. Nhất là Dương, cậu cảm thấy thằng em mình ngố quá, ngoài giở trò làm nũng thì chẳng giỏi cái chi, ra ngoài kia một mình, không có cậu ở bên đốc thúc thì có sống tốt được không? Thế nên vào những ngày gần cuối năm học, Dương tăng cường nhắc nhở, vừa dỗ vừa dọa, lần nào mua đồ ăn về cũng kêu "lần cuối đấy", thế mà con mèo ngố kia vẫn chẳng thấy thay đổi gì.
Thôi thì đến đâu thì đến vậy.
---
Hal: Nói thêm một chút về thú tộc, trong quá khứ, đúng là các thú nhân có tuổi thọ dài, thế nhưng đối với những người thuộc phe đổi mới, việc cố gắng hòa nhập với con người khiến họ bị ảnh hưởng bởi cách sống của nhân loại, cũng vì sự tồn tại của những cuộc hôn nhân giữa nhân loại và thú nhân, vô hình trung đã dẫn tới kết quả tuổi thọ của họ dần giảm xuống, gần với con người hơn.
(Không thấy hợp lý? looooool thì thôi chứ biết làm sao được =))))) Tôi phải bịa ra một lý do nào đó để công và thụ có tuổi thọ ngang ngang nhau với cả chuyện yêu đương khác chủng loại đã là bình thường, chứ để công chết trước xong thụ đợi chục năm nữa hay kiểu trải qua 7749 cái sóng gió gia tộc... à chủng loài rồi mới bên nhau thì tôi chịu không nổi =))))))))) )
À, và gien thú là gien trội nhé \m/
Chú ý nho nhỏ: Phần "lịch sử thú tộc" kia là một nồi kiến thức thập cẩm nhớ mỗi nơi một chút (mà không rõ là nhớ ở đâu) của tôi về các thể loại hình thành xã hội xong định nghĩa thần thánh các kiểu nên là về phần hợp lý cũng chỉ hên xui thôi hiuhiu ;((((((((
Thêm nữa, tôi dùng tên Việt vì tôi người Việt thôi, còn cái bối cảnh có thú nhân này thì đương nhiên là không phải ở cái đất Việt Nam trên Trái Đất này rồi =)))) Coi như một chiếc vũ trụ khác đi, và vì thế sẽ có sai lệch khi miêu tả đường phố, cách sống và ti tỉ thứ khác so với thực tế ( là vì trước đây ít quan sát nên tôi không nắm rõ, nói thẳng ra là thiếu hiểu biết đó OTL)
Nhận xét
Đăng nhận xét